HƯỚNG DẪN

Câu 1: Nêu và phân tích các sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Mỗi căn cứ cho ví dụ cụ thể

            Trả lời:

Nêu định nghĩa sự kiện pháp lý: ............................................................................

Sự kiện pháp lý rất đa dạng và phức tạp vì trong những trường hợp một quan hệ pháp luật dân sự chỉ phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt khi có nhiều sự kiện pháp lý khác nhau. Trong trường hợp nhiều sự kiện pháp lý liên quan đến nhau làm phát sinh hậu quả pháp lý thì được gọi là thành phần pháp lý.

Ngược lại, 1 sự kiện pháp lý có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật dân sự  khác nhau.

Ví dụ: ...................................................................................................................

Có 4 loại sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

- Sự biến pháp lý:  ...............................................................................................

         Ví dụ: ........................................................................................................

- Sự biến pháp lý được phân biệt thành: Sự biến tuyệt đối và sự biến tương đối.

+ Thứ nhất, là sự biến tuyệt đối: ..............................................................

+ Sự biến tuơng đối: .........................................................................................

Hành vi pháp lý bao gồm cả hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp.

+ Hành vi hợp pháp : .........................................................................

Ví dụ:..............................................................................................................

+ Hành vi bất hợp pháp: ...................................................................

Ví dụ: ..........................................................................................................

-Xử sự pháp lý: ......................................................................................

VD: .............................................................................................................

-          Thời hạn, thời hiệu

+Thời hạn: ..........................................................

+Thời hiệu: .............................................................

 

Câu 2: Phân tích các mức năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Theo quy định tại Điều 17 BLDS năm 2005 thì ”.................................................

Năng lực hành vi dân sự chỉ xuất hiện khi cá nhân đạt đến 1 độ tuổi nhất định và đạt được những điều kiện về khả năng nhận thức. Năng lực hành vi dân sự khác với năng lực pháp luật dân sự ở chỗ năng lực pháp luật dân sự thì có từ khi con người sinh ra và mất đi khi người đó chết còn năng lực hành vi dân sự phải đạt đến 1 độ tuổi nhất định thì năng lực hành vi dân sự mới xuất hiện.

      Năng lực hành vi của cá nhân là do mức độ phát triển về thể chất, về nhận thức của mỗi một cá nhân quyết định và được pháp luật thừa nhận trên cơ sở đó pháp luật dựa vào sự phù hợp giữa mức độ nhận thức làm chủ và và kiểm soát các hành vi dân sự với việc  thực hiện các hành vi đó để xác định các mức độ năng lực hành vi của cá nhân.

Phân tích các mức năng lực hành vi dân sự của cá nhân

-         Thứ 1: Không có năng lực hành vi dân sự

Theo quy định điều 21 BLDS năm 2005 thì người được xếp vào dạng này người dưới 6 tuổi. Quy định địa vị pháp lý đối với người dưới 6 tuổi : không được phép tự mình tham gia vào bất cứ quan hệ pháp luật dân sự  nào

-         Thứ 2: Có năng lực hành vi dân sự một phần

Theo quy định Điều 22 BLDS 2005 thì người có năng lực hành vi dân sự 1 phần:

+ Là người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi

+ Đều cần người đại diện hoặc người giám hộ

+ Từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có tài sản riêng và có khả năng điều khiển hành vi có quyền tham gia vào các giao dịch hàng ngày mà không cần người đại diện và người giám hộ.

Người chưa thành niên chưa phát triển đầy đủ về mặt cơ thể sinh học, còn nhiều hạn chế cả về thể chất cũng như tinh thần và rất dễ bị tổn thương. Vì vậy họ được pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ. Có thể thấy với những người từ độ tuổi 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự  phải có người giám hộ hoặc đại diện; người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có tài sản riêng và điều khiển hành vi có quyền tham gia vào các giao dịch hàng ngày mà không người đại diện hoặc người giám hộ.  Tuy pháp luật quy định như vậy nhưng trên thực tế cho thấy những người thuộc độ tuổi từ 6tuổi đến 18 tuổi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự  rất nhiều.

-         Thứ 3 : Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

Theo quy định Điều 18 BLDS năm 2005 thì người có từ đủ 18 tuổi trở lên, phải có khả năng điều khiển hành vi, tự mình tham gia mọi quan hệ pháp luật dân sự  mà pháp luật quy định.

Theo quy định Điều 18 BLDS năm 2005 thì những người từ đủ18 tuổi trở lên gọi là người thành niên.

Theo quy định pháp luật thì người có đủ năng lực hành vi dân sự phải là người 18 tuổi trở lên và phải là người không bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Người từ 18 tuổi trở lên đều được pháp luật quy định là có năng lực hành vi dân sự 1 cách đầy đủ trừ trường hợp bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

-Thứ 4: Mất người mất năng lực hành vi dân sự

+ Người mất năng lực hành vi dân sự

Người từ 18 tuổi trở lên đều được pháp luật quy định là có năng lực hành vi dân sự 1 cách đầy đủ trừ trường hợp bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đó là khi 1 người do bị bệnh tâm thần hoặc bị bênh khác dẫn đến tình trạng ko thể nhận thức và làm chủ được các hành vi của mình. Không phải ai cũng có quyền tuyên một người nào đó là bị mất năng lực hành vi dân sự việc này phải do tòa án xem xét và tuyên bố nhưng tòa án cũng chỉ tuyên bố 1 người mất năng lực hành vi dân sự khi :  

+ Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.

+ Có khả năng giám định của tổ chức có thẩm quyền

Địa vị pháp lý của người mất năng lực hành vi dân sự: Đối với những người mất năng lực hành vi dân sự pháp luật quy định thì những người đang bị mất năng lực hành vi dân sự thì không/chưa phải  chịu trách nhiệm về các giao dịch mà mình đã thực hiện trước đó. Và những người bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự cũng không được tham gia bất kỳ quan hệ pháp luật dân sự nào.

- Thứ 5: Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trong thực tế cuộc sống hiện nay có nhiều cá nhân đủ điều kiện tham gia mọi quan hệ pháp luật dân sự  tuy nhiên do nghiện các chất kích thích, nghiện ma túy dẫn đến hậu quả phá tán tài sản ảnh hưởng đến những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan pháp luật dân sự quy định hạn chế năng lực hành vi dân sự của những cá nhân đó.

Căn cứ vào cơ sở để tuyên người đó hạn chế năng lực hành vi dân sự thì cũng giống như mất năng lực hành vi dân sự

+ Người đó phải nghiện các chất kích thích, nghiện ma túy dẫn đến phá tán tài sản

+ Tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự trên cơ sở có đơn yêu cầu của những người có quyền và lợi ích liên quan hoặc cơ quan tổ chức hữu quan.

Khác với trường hợp mất  năng lực hành vi dân sự. Đối tượng có quyền yêu cầu hạn chế năng lực hành vi dân sự của 1 cá nhân thêm 1 đối tượng được quyền yêu cầu nữa đó là cơ quan tổ chức hữu quan.

Câu 3: Gia đình bà A nuôi vịt để tăng thu nhập. Khi lùa vịt về, bà A phát hiện đã có thêm hơn chục con vịt khác nhập vào đàn vịt nhà bà. Bà A đã đi hỏi các gia đình có nuôi vịt gần đó và báo với UBND xã nhưng không thấy gia đình nào báo mất vịt. Bà A đã nuôi ghép số vịt đó cùng đàn vịt của nhà mình. Thời gian sau, ông B ở thôn bên đến tìm bà A và nói rằng, số vịt đó là của nhà ông bị lạc nên muốn nhận lại. Bà A không đồng ý trả lại vịt cho ông B vì bà đã có công chăm sóc chúng hơn hai tháng. Giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn và cùng lên UBND xã để yêu cầu được giải quyết. Vậy, UBND xã phải giải quyết như thế nào?

Nhận định đây là tranh chấp về xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc

Được quy định tại Điều 232 BLDS 2015……………………………………….

Giữa ông B và bà A đã xảy ra tranh chấp về số vịt bị thất lạc. Ở bài tập này, cần phải xem xét về việc xác lập quyền sở hữu đối với số gia cầm nói trên

Từ quy định pháp luật áp dụng vào tình huống:

+ Trường hợp này bà A đã có hành vi thông báo công khai…

+ Thời gian ông B đến nhận vịt đã qua 2 tháng

       Trong trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc, mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại.. 

          Chủ sở hữu nhận lại gia cầm bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được

Trong trường hợp này, bà A đã báo với UBND xã về số vịt lạc đàn nên trách nhiệm thông báo công khai thuộc về UBND xã. 

Theo Điều 232 BLDS 2015, thì sau một tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì số vịt đó thuộc sở hữu của bà A. 

Thời điểm ông B đến gặp bà A để đòi lại số vịt bị thất lạc là đã hơn 2 tháng.

         Do vậy, trong trường hợp này, bà A không phải trả lại số vịt đó cho ông B.

 

Câu 4: Phân tích các điều kiện phát sinh trách nhiệm  bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

 

Nêu định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: ........................

...............................................................................................................................

Điều 584 BLDS 2015 quy định…………………………………………………….

 

1.Có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại được hiểu là: sự giảm bớt những lợi ích hợp pháp của 1 người xác định được trên thực tế bằng 1 khoản tiền nhất định.

 Những thiệt hại xảy ra và những thiệt hại chắc chắn sẽ xảy ra phải xác định được.  Những thiệt hại do suy đoán mà có người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Ví Dụ: ...................................................................................................

 

Căn cứ vào quy định của BLDS năm 2015 thì có hai loại thiệt hại:

a. Thiệt hại về vật chất

 Thiệt hại về vật chất là ...............................................................................

Thiệt hại vật chất rất đa dạng:

+ Tổn thất về tài sản như: ............................................................................

+ Những chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục, hạn chế thiệt hại.

+ Những thu  nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

 Tính mạng, sức khỏe con người không thể xác định giá trị bằng tiền được. Tuy nhiên, khi thiệt hại xảy ra thì phải đặt ra vấn đề bồi thường để bù đắp phần nào thiệt hại cho người bị thiệt hại.

+ Đối với thiệt hại về sức khỏe thì đó là ...................................................................

 + Đối với thiệt hại về tính mạng: ..........................................................................

b. Thiệt hại về tinh thần

 Là những tổn thất liên quan đến tình cảm, cảm xúc của con người nỗi đau khổ mất người thân bao nhiêu…

Trong trường hợp này hai bên phải căn cứ vào nhân thân, tuổi tác, nghề nghiệp…

Ngoài ra khi xác định thiệt hại cũng cần lưu ý : Đối với vật nuôi, giống cây trồng thì việc căn cứ vào không gian và thời gian của thiệt hại để xác định mức thiệt hại là rất quan trọng.

 

2. Có hành vi trái pháp luật.

Hành vi trái pháp luật là hành vi của con người thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.

- Hành vi được thể hiện dưới dạng hành động:

Ví dụ: ..........................................................................................................

- Hành vi được thể hiện dưới dạng không hành động.

Ví Dụ: ......................................................................................................

 

Tuy nhiên cũng cần lưu ý không phải hành vi gây thiệt hại nào cũng là hành vi trái pháp luật.

+ Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết;

+ Thiệt hại khi đang thi hành công vụ;

+ Gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng

 

3. Có lỗi của người gây thiệt hại

Thông thường một nếu 1 người có năng lực dân sự nếu gây thiệt hại thì họ bị coi là có lỗi. Nếu 1 người không có năng lực pháp luật nếu gây thiệt hại thì họ không bị coi là có lỗi nhưng trong luật dân sự không phân biệt hành vi có lỗi vô ý hay lỗi cố ý. Khác với luật hình sự, lỗi trong Luật hình sự phải phân biệt lỗi vô ý với lỗi cố ý.

Lỗi là một trong 4 điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp pháp luật quy định không có lỗi vẫn phải bồi thường. Việc phân biệt hai hình thức lỗi có một số ý nghĩa nhất định trong việc xác định trách nhiệm bồi thường

Để xem xét một hành vi gây thiệt hại có lỗi hay không phải xem xét dưới 2 dạng:

- Về mặt khách quan: pháp luật có cho phép hay không;

- Về mặt chủ quan: có khả năng nhận thức điều khiển được hành vi của mình hay không.

 

4.Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra. Quan hệ nhân quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật.

Mọi hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều được gây nên bởi những nguyên nhân nhất định. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân cả. Như vậy, nguyên nhân bao giờ cũng làm phát sinh ra một hoặc nhiều kết quả hoặc một kết quả của sự vật, sự việc mang tính tất yếu.

Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra, cần thiết phải phân biệt nguyên nhân với những điều kiện nhất định. Những điều kiện này là những điều kiện cần thiết cho một biến cố nào đó xảy ra, nhưng bản thân chúng không gây ra một biến cố nào. Tuy nhiên, không có điều kiện thì nguyên nhân không thể nào gây nên kết quả được. Như vậy, có thể thấy, nguyên nhân bao giờ cũng làm phát sinh một hoặc nhiều kết quả nào đó, còn điều kiện tự nó không thể làm phát sinh bất kỳ kết quả nào.

 

Tuy nhiên, khi xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, cần thiết phải xác định được những đặc điểm sau đây:

- Thứ nhất là tính thời gian trong quan hệ nhân quả. Quan hệ nhân quả là một quan hệ diễn biến trong quá trình thuộc về một khoảng thời gian cụ thể. Do vậy hành vi được coi là nguyên nhân phải diễn ra trước kết quả, người có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Thứ hai là tính hiển nhiên trong quan hệ nhân quả. Tính hiển nhiên phản ánh mối quan hệ bản chất của sự vật, sự việc trong những điều kiện nhất định nó vận động, phát triển theo xu hướng nhất định phải như thế này mà không thể như thế kia.

 - Thứ ba là tính khách quan trong quan hệ nhân quả. Tồn tại độc lập với ý thức của con người, con người không thể tùy tiện xóa bỏ nó.

 

 

Câu 5: Ông D là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô chỗ 4 ngồi, hãng TOYOTA. Anh A là tài xế xe cho ông D. Vào ngày 02/02/2012, trên đường đi anh A gặp người quen nên đã xuống xe để nói chuyện, nhưng anh không rút chìa khóa điện mà để cho xe vẫn nổ máy. Anh B là người có mặt tại địa điểm đó đã lợi dụng lúc anh A không để ý, đã lên xe và điều khiển cho xe. Là người đang học lái xe, anh B không làm chủ được tốc độ, do vậy đã để xe đâm thẳng vào phía sau xe mô tô do anh C đang điều khiển cùng chiều gây thiệt hại về tài sản và gây thương tích cho anh C.

Thiệt hại xác định được:                      

1)Xe mô tô của anh C bị hỏng nặng, sửa chữa hết 5.000.000 đồng;

2) Anh C bị gẫy dập xương lồng ngực, điều trị hết 20.000.000 đồng.

Hỏi: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên?

 

-         Nhận định được anh A là người có lỗi trong việc gây thiệt hại cho anh C

Nêu, trích dẫn khoản 4 Điều 601 BLDS 2015 ” ......................................

-         nhận định anh B cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại cho anh C

 

Xác định được anh A và anh B chịu trách nhiệm liên đới BTTH cho anh C;

 

Nêu, trích dẫn Điều 600 BLDS 2015 ” ..................................................”

-         xác định ông D là người trước hết chịu trách nhiệm BTTH.

-         Xác định anh A có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông D

Tính tổng thiệt hại anh C được bồi thường

Anh A là người có lỗi trong việc để cho anh B có điều kiện chiếm hữu và sử dụng gây thiệt hại cho anh C. Theo quy định tại khoản 4 Điều 601 BLDS 2015, thì anh A và anh B đều có lỗi đối với thiệt hại cho anh C, theo đó họ có trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh C. Nhưng anh A là người làm công cho ông D, theo quy định tại Điều 600 BLDS 2015, trước hết trách nhiệm bồi thường thuộc về ông D, do vậy ông D và anh B có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh C.

 

Trong trường hợp này, anh A có lỗi với thiệt hại cho anh C, theo yêu cầu của ông D, anh A có nghĩa vụ hoàn trả ông một khoản tiền mà ông đã bồi thường cho anh C. Điều 600 BLDS 2015 quy định: .........................................................................

 

Tổng thiệt hại gây ra cho anh C xác định được là 20.000.000 đồng + 5.000.000 đồng = 25.000.000 đồng. Anh B và ông D có trách nhiệm bồi thường cho anh C số tiền trên. Theo đó, anh B và ông D phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường  cho anh C theo nội dung của trách nhiệm liên đới

 

 

Câu 6: Những khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích.

 

a.      Người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

 

Nhận định sai

Giải thích:.................................................................................................

 

b.      Người từ đủ 18 tuổi đương nhiên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

 

Nhận định sai

Giải thích:.................................................................................................

 

c.       Cha mẹ là người giám hộ đương nhiên của con chưa thành niên

 

Nhận định sai

Giải thích:.................................................................................................

 

 

Câu 7: Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

 

+ Về cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH: Cơ sở phát sinh trách nhiệm trong hợp đồng có thể do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận. Nhưng đối với TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh trách nhiệm do pháp luật quy định

+ Quan hệ giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại: Không có quan hệ hợp đồng hoặc nếu có thì hành vi gây thiệt hại không liên quan đến thỏa thuận trong hợp đồng.

+ Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có thể áp dụng đối với chính người gây thiệt hại hoặc với người khác được xác định là có trách nhiệm với thiệt hại xảy ra;

Ví dụ: …………………………………………………………..

+ Hành vi trái pháp luật: ............................................................................

Nhưng đối với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm đến các quyền lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

+ Yếu tố lỗi: ...................................................................................

Cụ thể, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng BLDS năm 2015 quy định ngay cả khi không có lỗi trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ.

Ví dụ: ………………………………………………………………………………………..

+ Thiệt hại trong TNBTTH ngoài hợp đồng: Khác với trách nhiệm BTTH trong hợp đồng như hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho…thì thiệt hại là về tài sản nhưng còn với TNBTTH ngoài hợp đồng thì thiệt hại rất đa dạng: thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín…

+ Căn cứ chấm dứt:

Quan hệ nghĩa vụ giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại chấm dứt khi bên gây thiệt hại đã BT toàn bộ thiệt hại.

 Không giống như trong hợp đồng mặc dù có hành vi bồi thường hay chịu phạt vi phạm nhưng vẫn chưa chấm dứt quan hệ nghĩa vụ.

+ Mức độ bồi thường: …………………………………………………………….